🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Các loại sâm (Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm...), Tế tân, Bạch thược đều trái với Lê lô.

Thập cửu úy ca (Bài ca về mười chín vị thuốc sợ nhau)

Dịch nghĩa:

Lư hoàng vốn là tinh túy của lửa,

Một khi gặp Phác tiêu liền tranh nhau.

Thủy ngân chớ để gặp Tỳ sương.

Lang độc rất sợ Mật đà tăng.

Ba đậu là vị tính dữ nhất,

Riêng không thuận tình cùng Khiên ngưu,

Đinh hương chớ để gặp Uất kim.

Nha tiêu khó hợp cùng Kinh tam lăng.

Xuyên ô, Thảo ô không thuận với tê giác.

Nhân sâm rất sợ Ngũ linh chi.

Quan quế điều hòa khí lạnh rất hay,

Nhưng nếu gặp Thạch chi sẽ mất công hiệu.

Phàm chế thuốc phải xem tính thuận nghịch của các vị.

Nếu nghịch thì bào chế đừng để lẫn với nhau.

Ngư rằng: Xin cạn lời trao,

Lệ xưa dùng thuốc dường nào đặng tinh?

Dẫn rằng: Gắng sức học hành,

Rộng xem sách thuốc, gẫm tình dùng phương.

Nhớ câu đối chứng lập phương,

Quân, thần, tá, sứ đo lường chớ sai.

Vua tôi hòa hợp theo loài,

Đừng cho phản úy làm tai hại người.

Mở ra mấy cửa chỉ ngươi,

Bảy phương đã sẵn, lại mười tễ dư.

Phương là đại, tiểu, ngẫu, cơ,

Phức, cùng hoãn, cấp, sờ sờ khá trông.

Tễ là bổ, tả, tuyên, thông,

Trọng, khinh, hoạt, sáp, táo cùng thấp thôi.

Bảy phương, mười tễ biết rồi,

Mặc trau thang, tán, mặc dồi hoàn, đan.

Làm thang, làm tán, làm hoàn,

Ít nhiều cân lượng dón bàn phân minh.

Phải coi vị thuốc cho rành,

Gạn màu thật, giả, xét hình mới, lâu.

Lại xem bào chế phép mầu,

Khuyên đừng lỗi tính, nào cầu khéo tay.

Sẵn dùng muối mặn, gừng cay,

Dấm chua, mật ngọt, rượu say, đồng tiền (tiện).

Coi theo vị thuốc chế liền,

Hoặc sao, hoặc nướng, hoặc chuyên nấu dầm.

Chớ cho vị độc hại thầm,

Khiến vào kinh lạc chẳng lầm mới hay.

Mật ong vào phế là thầy,

Muối kia vào thận, dấm này vào can.

Nước gừng vào chỗ tỳ quan,

Rượu cùng nước đái vào đàng tâm kinh.

Cho hay mấy vị dẫn kinh.

Muốn nên công hiệu, phải tinh chế dùng.

Vị nào dùng sống, sạch tinh,

Vị nào dùng chín tốt hình mới nên.

Lại gìn năm cấm chớ quên,

Răn người uống thuốc cho bền cữ ăn.

Mặn thời máu chạy làm nhăng,

Hỡi ôi bệnh huyết chớ ăn mặn mòi.

Cay thời hơi chạy chẳng thôi,

Hỡi ôi bệnh khí chớ giồi ăn cay.

Đắng thời hay chạy xương ngay,

Hỡi ôi cốt bệnh đắng rày chớ ăn,

Chua thời hay chạy gàn săn,

Hỡi ôi cân bệnh chớ ăn chua nhiều.

Ngọt thời thịt chạy có chiều,

Hỡi ôi nhục bệnh chớ nhiều ngọt ăn.

Thánh xưa cặn kẽ bảo răn,

Hễ bưng thuốc uống, vật ăn phải dè.

Vật ăn nhiều món khắt khe,

Miệng thèm chẳng nhịn, thời e hại mình.

Giả như thuốc có Truật, Linh,

Thấy mùi tỏi, dấm thật tình chẳng ưa.

Uống trà thời chớ ăn dưa,

Hoàng liên, Cát cánh phải chừa thịt heo.

Thường sơn, hành sống chẳng theo,

Địa hoàng, củ cải, lại chèo nhau ra.

Thịt trâu, Ngưu tất tránh xa,

Xương bồ, Bán hạ chẳng hòa thịt dê.

Vật ăn khắc thuốc bộn bề,

Mỡ, dầu, thịt, cá ê hề... noi dai.

Trái cây rau sống nhiều loài,

Cữ kiêng thời khá, kèo nài thời đau.

Ta xin đón nói một câu:

"Bệnh tòng khẩu nhập", phải âu giữ mình.

Phép dùng thuốc muốn cho tinh,

Hợp theo nước, lửa, sinh, thành số dương.

Như vầy mới thật tiên phương,

Mới rằng tâm pháp rộng đường xưa nay,

Sau rồi coi sách thời hay,

Lời ca thi quyết ta nay truyền lòng:

Dựng dược tổng quyết (Tổng quyết về phép dùng thuốc)

Dịch nghĩa:

Các vị làm quân, làm thần phải hòa hợp, không trái nghịch.

Bảy phương mười tễ đều có phép tắc,

Hoặc sắc thành thang, viên làm hoàn, tán làm bột, luyện làm đan, liệu mà châm chước.

Các vị thuốc thực, giả, mới, cũ phải xem xét tỉ mỉ.

Theo phép tắc mà bào chế, chớ cậy khéo léo,

Vị chín thì thăng, vị sống thì giáng, phép cũ định rồi.

Cho uống kịp thời, lại phải biết những điều kiêng kỵ,

Dùng cho đúng và hợp, không sơ sót, đó là thuốc tiên.

Chế dược yếu phương (Những điều quan trọng trong việc chế thuốc)

Dịch nghĩa:

Nguyên hoa vốn lợi thủy, nhưng không sao dấm không thông.

Đậu xanh vốn giải độc, nhưng để nguyên vỏ không công hiệu,

Thảo quả chữa đầy bụng, nhưng để vỏ lại sinh tức ngực,

Hắc sửu để sống lợi thủy, gặp Viễn chí thành có độc,

Bồ hoàng để sống thông huyết, dùng chín thì bổ huyết.

Địa du là thuốc cầm huyết, nhưng dùng ngọn thì huyết không cầm.

Trần bì chuyên chữa khí, nếu để cả màng trắng thì bổ vị.

Phụ tử là vị cứu dương, nếu dùng sống thì chữa được bệnh phong ngứa.

Thảo ô chữa phong tê, nhưng dùng sống lại gây bệnh.

Nhân ngôn đốt qua hãy dùng.

Các loại đá thì phải nung,

Ngâm dấm thì mới tán nhỏ được,

Lề lối phải cho khéo.

Xuyên khung phải sao bỏ chất dầu, vì dùng sống sinh tê đau.

Dược hữu cửu trần ca (Bài ca về kinh nghiệm dùng chín vị thuốc)

Dịch nghĩa:

Trần bì, Bán hạ với Hương nhu,

Chỉ thực, Chỉ xác, Ngô thù du,

Kinh giới, Ma hoàng cùng Lang độc,

Muốn hay, cần phải để cho lâu.

Tiều rằng: Xuân, hạ, thu, đông,

Bốn mùa dùng thuốc chữa thông đạo thường.

Dẫn rằng: Trời bốn khí thường,

Xuân ôn hạ nhiệt, thu lương, đông hàn.

Theo mùa dùng thuốc thời an,

Mùa nào khí nấy, phải toan nhớ dồi.

Mùa xuân thời khí nóng bồi,

Hốt trong thang thuốc gia mùi thanh lương.

Mùa hè thời khí nóng thương,

Hốt trong thang thuốc thêm lương cho nhiều,

Mùa thu khí mát hiu hiu,

Gia vào vị ấm mới điều hơi dương.

Mùa đông khí lạnh thấu xương,

Gia vào vị nóng ngăn đường tà âm,

Nào lo trị bệnh, thuốc lầm,

Bốn mùa tay thước đều cầm ở ta.

Kinh rằng: "Vật phạt thiên hòa,

Tất tiên tuế khí" ấy là lời ngay.

Đạo thường giữ vậy thời hay,

Hết Chương 7

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 8
← TrướcTiếp →