🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Vận đồng với khí, rằng năm thiên phù.

Sáu mươi năm giáp một chu,

Mười hai năm gọi thiên phù rõ phân.

Loại như Mậu tý, Mậu dần,

Mậu thân, Mậu ngọ, Bính Thần, Tuất chi.

Cùng năm Kỷ sửu, Kỷ vi,

Mão Dậu hai Ất; Hợi, Tỳ hai Đinh,

Cho hay vận khí đồng tình,

Mười hai năm ấy thật danh thiên phù.

Vận lên ngôi khí ở sau,

Gọi rằng tuế hội, đếm đầu tám chi.

Loại như Kỷ sửu, Kỷ vì,

Giáp thìn, Giáp tuất, thổ vi thổ làm.

Đinh mão mộc, Ất dậu câm (kim),

Bính tý, Mậu ngọ, nước ngâm lửa dầu.

Thiên phù, tuế hội hợp nhau,

Gọi rằng thái ất thiên phù, bốn chi.

Loại như Kỷ sửu, Kỷ vi,

Ất dậu, Mậu ngọ, hơi đi một bờ.

Lấy năm coi tháng, ngày, giờ,

Tháng, ngày, giờ cũng có cờ tư thiên.

Giả như Mậu ngọ ngày kiên (kiến),

Vận đồng với khí, là duyên thiên phù.

Cho hay tuế hội, thiên phù,

Gặp ngày năm ấy, bệnh đau khó lành.

Ta nay ước nói việc Kinh,

Máy trời lắm chỗ gập ghềnh sâu xa.

Mười hai năm gọi bất hòa,

Bởi vận khắc khí, mới ra bất bình.

Mười hai năm gọi thiên hình,

Bởi khí khắc vận, đua giành tai nguy.

Vận mà sinh khí, lỗi nghi,

Gọi rằng tiểu nghịch thị phi nhộn nhàng.

Khí mà sinh vận thời an,

Gọi rằng thuận hóa, muôn ngàn cõi vui.

Nhiệm mầu chẳng những vậy thôi,

Can chi còn có hai ngôi đức phù.

Lại đồng tuế hội, thiên phù.

Vận đi suy tỵ phải âu xét bàn.

Nội kinh câu chữ rõ ràng:

"Cang hại, thừa chế", khuyên chàng gắng coi.

Hữu dư, bất túc rẽ ròi,

Xuất, nhập, thăng, giáng, hẳn hòi chẳng ngoa.

Mỗi năm trước vẽ đồ ra,

Xét so vận khí chính, tà thời hay.

Như vầy mới phải gọi thầy,

Giúp công hóa dục, nuôi bầy dân đen.

E người học đạo chẳng chuyên,

Vào tai ra miệng, luống phiền lòng ta.

Tiều rằng: Kinh nghĩa kín, xa,

Một câu "cang hại..." nghe qua chưa tường.

Dẫn rằng: Đây gặp giữa đường,

Nói phô kinh sách, mang trương khó lòng.

Muốn cho biết lẽ tinh thông,

Lần vào cửa đạo, hỏi ông Đan Kỳ.

Học cho thấy chỗ u vi,

Phép mầu ý nhiệm, rộng suy giúp đời.

Ngư rằng: Xin dạy cạn lời,

Trong rừng Bản thảo nhiều nơi chưa tường.

Kìa mười hai bộ đan phương,

Mấy mùi, mấy tính, mở đường từ ai?

Dẫn rằng: Bản thảo nhiều loài,

Kể ra cho hết chuyện này vả lâu.

Một bộ kim thạch ở đầu,

Trăm ba mươi tám giống sưu đá vàng.

Một bộ thảo thượng giàu sang,

Chín mươi lăm giống, rõ ràng hột hoa.

Một bộ thảo trung nối ra,

Chín mươi bảy giống gốc, chà, lá cây.

Một bộ thảo hạ rộng xây,

Trăm hai mươi có ba loài củ căn.

Một bộ mộc thụ giăng giăng,

Một trăm sáu chục bảy, rằng giống cây.

Một bộ nhân ấy thuốc vầy,

Có hai chục vị đủ xây cho dùng.

Một bộ thú vật thuốc sung,

Chín mươi mốt giống mật, lòng, da, xương.

Một bộ cầm điểu thuốc thường,

Ba mươi bốn giống, đều đường cánh lông.

Một bộ trùng ngư thuốc chung,

Chín mươi chín giống, non sông khắp vời.

Một bộ mễ cốc nuôi đời,

Ba mươi tám giống, nơi nơi vun trồng.

Một bộ quả phẩm thanh phong,

Có bốn mươi giống trái nồng hơi hương.

Một bộ sơ thái khắp phương,

Sáu mươi hai giống, lá vườn thơm thơ.

Cộng mười hai bộ toán cho,

Một nghìn bốn vị, đều lò hóa công

Từ xưa có họ Thần Nông,

Thay trời trị vật, tấm lòng yêu dân.

Trải đi nếm vị khổ tân,

Một ngày hơn bảy mươi lần trúng thương.

Thử rồi muôn vật âm dương,

Dọn làm Bản thảo để phương cứu đời.

Thuốc tuy nhiều vị, khác hơi,

Chẳng qua sáu tính, ở nơi năm mùi.

Năm mùi dưới đất nên hình,

Trên trời cho tính, rộng vinh theo mùa,

Đắng, cay, ngọt, lạt, mặn, chua,

Năm mùi hơi giúp, khá tua chia bàn.

Cay thời hay nhóm hay tan,

Chua hay thâu góp, mặn ăn nhuyễn bền.

Đắng thời hay dội nóng lên,

Ngọt hay lơi chậm, lạt nên lọc lường.

Vị cay, ngọt, lạt thuộc dương,

Vị chua, đắng mặn tỏ tường thuộc âm.

Có vị dương ở trong âm,

Âm trong dương, ấy máy cầm nhiệm thay,

Khác nhau hơi mỏng, hơi dày,

Hơi trong, hơi đục, chỗ thay chẳng đồng.

Trọn gìn sáu tính linh thông,

Gọi rằng "thăng, giáng" ấy cùng "ôn, lương",

Bổ hư, tả thực mọi giường,

Cho hay tính thuốc nhiều đường sâu xa.

Xưa chia năm vị ấy ra,

Làm binh sáu cửa, ngăn tà sáu dâm.

Phong mòn cày gió ầm ầm.

Có mùi cay mát giữ cầm nửa phong.

Lửa hừng cửa nhiệt nóng hung.

Có mùi mặn lạnh, chỗ phòng nhiệt môn.

Đất trong cửa thấp ướt dồn,

Có mùi cay nóng giữ dồn thấp quan.

Vàng nằm cửa táo khô khan,

Có mùi đắng ấm giữ đàng táo hương.

Nước là cửa lạnh băng sương,

Có mùi cay nóng giữ đường hàn môn.

Lại thêm sang độc một môn,

Nhóm mùi thuốc ghẻ, đóng dồn ngoại khoa.

Phải coi năm vị ấy ra,

Gọi là úy ố, gọi là phản nhau.

Có mười tám vị phản nhau,

Lại mười chín vị úy nhau chẳng hiền.

Sách y xưa có lời biên,

Phản cùng úy ố nhà truyền lời ca.

Thập bát phản ca (Bài ca về mười tám vị thuốc trái nhau)

Dịch nghĩa:

Bản thảo nói rõ mười tám vị thuốc trái nhau:

Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch liễm, Bạch cập đều trái với Ô đầu.

Hải tảo, Đại kích, Cam toại, Nguyên hoa đều trái với Cam thảo.

Hết Chương 6

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 7
← TrướcTiếp →