🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Thổ hà, xì hít hơi hung luyện hình.

Xin lòng nhân dục cho thanh,

Trau mình nào phải đọc kinh Hoàng đình.

Xin lòng luân lý cho minh,

Nuôi lòng nào phải đọc kinh Âm phù.

Cho hay Tiên, Phật rằng tu,

Cũng trong bảo dưỡng đương đầu trổ ra.

Cả than Đạo Dẫn bạn ta,

Học y một cửa, nay đà tách thân.

Lòng va muốn chữ xuất trần,

Để câu phụ tử quân thần mặc ai.

Tiếc đời ôm đức cưu tài,

Sĩ đều có khí khôn nài đó sao.

Ngư rằng: Thời vậy nài sao.

Dù Tiên, dù Phật, bề nào cũng xong.

Nay ta còn chỗ nghi lòng,

Nghề y, nghề bốc, khác dòng nhau xa.

Cờ sao ba tượng trong tòa,

Tiên thiên đồ ấy treo ra làm gì?

Môn rằng: Tám quẻ Bào Hy,

Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Tiên thiên, một bức đồ khai,

Để coi phương hướng muôn loài hóa sinh.

Kiền, tây bắc, Tuất, Hợi đình,

Khảm phương chính bắc, ngôi đành Tý cung,

Cấn, đông bắc, Sửu, Dần thông,

Chấn ngôi đương Mão, chính đông phương trời.

Tốn, đông nam, Thìn, Tỵ vời,

Ly cung đương Ngọ, hướng trời chính nam.

Khôn: Mùi, Thân, phía tây nam,

Đoài đương ngôi Dậu, chính nhằm tây phương.

Xét trong tám hướng âm, dương,

Máy trời xây bủa, bốn phương năm hành.

Hậu thiên Ly, Khảm vẽ hình.

Cho hay khí huyết trong mình chủ trương.

Ly là hơi, lửa, thuộc dương,

Khảm là nước, máu, lẽ thường thuộc âm.

Song mà Ly trống vốn âm,

Khảm cung đầy giữa, thật cầm chân dương.

Ấy chia hư thực âm dương,

Nước đầy, lửa trống, khôn lường máy sâu.

Mạnh thời nước lửa, hòa nhau,

Yếu thời nước lửa chia đau trong mình.

Đạo y nửa ở Dịch kinh,

Chưa thông lẽ Dịch, sao rành chước y.

Tổ rằng "Muốn học Hiên Kỳ,

Trước tua đọc quẻ Bào Hy mới tường ".

Tiều rằng: Một tượng Minh Đường,

Một đồ khí hậu chủ trương việc gì?

Môn rằng: Trên dưới hai nghì,

Giữa thì người vật, tóm ghi một đồ.

Vẽ mười vòng nhóm một đồ,

Để coi khí hậu xây bồ ứng nhau.

Năm ngày một hậu đến xâu,

Ba hậu một khí, cứ đầu toán ra.

Hai khí một tháng kể ra,

Giáp mười hai tháng, ấy là một niên.

Một niên chia bốn mùa riêng,

Hai mươi bốn tiết, theo liền dựng giao.

Đoanh xây hai chục tám sao,

Trải ba mươi sáu cung nào chẳng xuân.

Mỗi năm khí hậu xây vần,

Mười vòng lớn nhỏ, có chừng thủy chung.

Việc người, lẽ vật ở trong,

Một hồ trời đất, mười vòng tóm giơ.

Lặng lòng coi bức đồ thơ (thư),

Ba ngàn thế giới, thấy bờ cõi xinh.

Sách châm lại vẽ ba hình,

Ba hình người ấy gọi Minh Đường đồ.

Một hình nằm sấp để đo,

Thái dương kinh túc, huyệt dò sau lưng.

Một hình nằm ngửa làm chừng,

Dương minh kinh túc, huyệt ngưng trước mình,

Một hình ngồi mé hông trinh,

Thiếu dương kinh túc, huyệt hành hai bên.

Ba hình tóm lại một nền,

Ba trăm sáu chục năm tên huyệt rời.

Rộng coi kinh lạc nơi nơi,

Minh người đủ ứng độ trời một niên,

Dón coi thủ túc đôi bên,

Trong ba âm, với ngoài liền ba dương.

Mười hai kinh huyệt chia đường,

Sáu du, sáu hợp, chỗ thường phép châm.

Bệnh nào đau ở kinh âm,

Huyệt du cấp cứu, khỏi lầm tai ương.

Bệnh nào đau ở kinh dương,

Cứu theo huyệt hợp ngăn đường tà đi.

Cứ theo du hợp phép ghi,

Chân trời kíp tỉnh, bệnh gì còn lo.

Kinh dương sáu phủ đếm cho,

Bảy mươi hai huyệt, đủ dò tay chân,

Kinh âm, năm tạng có chừng,

Sáu mươi chỗ huyệt, tay chân chia đều.

Kể mười hai huyệt tóm nêu,

Có lời toát yếu, đặt điều thơ ca.

Sáu âm, sáu dương đã ca,

Lại thêm khí huyết theo ra sáu bài,

Kể thơ, mười có tám bài,

Âm dương khí huyết theo loài quán thông.

Muốn cho châm cứu phép ròng,

Huyệt kinh phải đọc thuộc lòng thi ca.

Dương kinh lục phủ tỉnh, vinh, du, nguyên, kinh, hợp ca (Bài ca về các huyệt tỉnh, vinh, du, nguyên, kinh, hợp của dương kinh thuộc sáu phủ)

Dịch nghĩa:

Tay chân đều có ba dương kinh, tổng cộng ba mươi sáu huyệt, cả hai bên phải và trái tổng cộng là bảy mươi hai huyệt.

1. Túc thiếu dương: Mật (đởm)

Khiếu âm làm huyệt tỉnh.

Hợp khê làm huyệt vinh.

Lâm khấp làm huyệt du,

Khưu khư làm huyệt nguyên.

Dương phụ làm huyệt kinh.

Dương lăng làm huyệt hợp.

(Khiếu âm biệt hậu, hận tương khiên,

Kỷ hiệp khê lâm khấp đỗ quyên.

Hoài bảo khưu khư tinh vị tất

Phiền quân dương phụ ký lăng tuyền.)

2. Thủ thiếu dương: tam tiêu

Quan xung làm huyệt tỉnh.

Dịch môn làm huyệt vinh.

Trung chữ làm huyệt du.

Dương tri làm huyệt nguyên.

Chi câu làm huyệt kinh

Thiên tỉnh làm huyệt hợp.

(Quang xung đào lý dịch môn tài,

Trung chữ, dương trì thứ đệ khai.

Hoa lạc chi câu hương mãn giản.

Nhất thiên tỉnh tự diệp phi lai).

3. Túc dương minh: Dạ dày

Lệ đoái làm huyệt tỉnh.

Nội đình làm huyệt vinh.

Khê cốc làm huyệt du.

Xung dương làm huyệt nguyên.

Giải khê làm huyệt kinh.

Tam lý làm huyệt hợp.

(Nhất phàm phong tống đoái đình tê (tây)

Hãm cốc xung dương quá giải khê.

Tam lý vị trí hà nhật đáo,

Kỷ phiên kiều thủ dục tư tề).

4. Thủ dương minh: Ruột già

Thương dương làm huyệt tỉnh,

Nhị gian làm huyệt vinh.

Hết Chương 14

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 15
← TrướcTiếp →