🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Người Cao Lan có một lối hát gọi là Sình ca.

Hát Sình ca không hát một mình. Phải có hai bên — bên nam, bên nữ — hát đối đáp. Bên này ra một câu, bên kia phải đỡ lại. Đỡ được thì hát tiếp, đỡ không được thì thua.

Có cuộc hát kéo dài mấy đêm liền. Người hát khản giọng, người nghe ngủ gật rồi tỉnh dậy nghe tiếp.

Người Cao Lan bảo: lối hát ấy là của một người con gái để lại. Tên nàng là Lau Slam — có nơi gọi là Lưu Ba, có nơi gọi là Lưu Tam.

Lau Slam mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở với anh trai và chị dâu.

Nàng xinh. Nhưng cái làm cả vùng nhắc đến nàng không phải nhan sắc.

Nàng có tài ứng khẩu.

Ai buông ra một câu, nàng đỡ lại ngay được một câu — vần khớp, ý sắc, mà nghe lại mềm. Nàng nghĩ ra lời nhanh hơn người ta nghĩ ra cách làm khó nàng.

Trai bản kéo đến hát thử. Chẳng ai qua được nàng.

Người chị dâu trong nhà không ưa chuyện đó.

Bà thấy khách vào nhà là hỏi Lau Slam, không ai hỏi bà. Bà thấy em chồng ngồi khung cửi mà miệng vẫn hát, còn mình thì lụi cụi ngoài bếp.

Bà bắt đầu tìm cách. Sai nàng làm những việc nặng nhất, giao những việc khó nhất, nói những lời cay nhất.

Lau Slam làm hết. Làm xong lại hát.

Đó là cái mà người chị dâu không lấy đi được.

Một mùa xuân, bản mở hội tung còn.

Quả còn bay qua bay lại trên bãi. Hai bên nam nữ đứng đối nhau mà hát ví.

Bên nam có một chàng trai tên Dừn.

Nhà chàng nghèo lắm, chỉ có một mẹ già. Nhưng chàng hát thì không thua ai.

Lau Slam buông một câu. Dừn đỡ. Dừn ra một câu. Lau Slam đỡ.

Bên này chưa dứt, bên kia đã có lời.

Trời tối, người ta đốt đuốc. Đuốc tàn, người ta đốt tiếp.

Hai người hát hết đêm ấy sang đêm sau, sang đêm sau nữa. Không ai chịu thua một lời.

Đến khi cả hai cùng lạc giọng thì cả bãi vỗ tay. Không ai phân thắng bại, vì không có kẻ thắng.

Nhưng ai cũng thấy rõ một chuyện: hai người ấy đã thuộc về nhau từ lúc nào rồi.

Nghèo thì không cưới được.

Người ta thách cưới bằng bạc trắng. Nhà Dừn không có nổi một nén.

Rồi mẹ chàng mất.

Chôn cất mẹ xong, Dừn đứng trước cái nhà trống, hiểu rằng ở lại thì chẳng bao giờ đủ.

Chàng tìm gặp Lau Slam lần cuối.

"Anh đi. Anh học hành, làm lụng. Có bạc trắng anh về."

Nàng không giữ. Nàng chỉ hát cho chàng nghe một câu — câu ấy về sau người Cao Lan vẫn hát trong những cuộc tiễn nhau.

Rồi chàng đi.

Lau Slam chờ.

Một năm. Hai năm. Người trong bản giục nàng lấy chồng. Nàng lắc đầu.

Người chị dâu càng có cớ nói nặng.

Cuối cùng, nàng bỏ nhà, lên núi Chín Khúc ở.

Nàng dựng một cái chòi, sống một mình, ăn rau rừng, uống nước suối. Ngày ngày nàng làm lời hát — hát cho gió, cho thông, cho những người chưa tới.

Có người lên núi hái thuốc, nghe được, thuộc vài câu, mang về bản. Người bản nghe, thấy hay, lại truyền cho nhau.

Cứ thế, lời hát của nàng xuống núi trước cả khi nàng xuống.

Dừn về sau nhiều năm.

Chàng hỏi khắp bản. Người ta chỉ lên núi Chín Khúc.

Chàng leo lên. Đường dốc, chàng đã yếu — mấy năm tha hương, ăn đói làm nặng, người chàng chẳng còn được như xưa.

Chuyện kể rằng khi chàng tới nơi thì đã muộn: chàng ngã xuống ngay dưới chân núi, không kịp gặp nàng.

Lau Slam nghe tin, bỏ chòi mà đi xuống.

Nàng tìm đến chỗ ấy, tựa lưng vào một gốc thông, rồi hát.

Nàng hát suốt mười ba đêm.

Không ăn, không ngủ. Đêm nào cũng một khúc mới, mỗi khúc một nỗi.

Người trong bản kéo đến ngồi quanh nghe. Có người thuộc được vài câu thì lấy que vạch xuống đất, sợ sáng ra quên mất.

Đến đêm thứ mười ba, tiếng hát nhỏ dần, rồi tắt hẳn.

Nàng ra đi ngay dưới gốc thông ấy.

Nhưng những khúc hát thì ở lại.

Người ta chép lại — chép trên giấy bản, cất trong ống nứa treo trên xà nhà. Nhà nào cũng có một cuốn.

Bao nhiêu đời trôi qua, con trai con gái Cao Lan đến tuổi biết đi hội là học thuộc lời của nàng.

Người Cao Lan tôn nàng là Bà chúa thơ ca.

Và mỗi dịp Tết đến, khi bản mở hội Sình ca, có hẳn một chương riêng để mời nàng về hát cùng.

Người chủ hát cất giọng mời. Mời xong mới bắt đầu cuộc đối đáp — như thể trong vòng người ngồi đó có một chỗ trống dành sẵn cho nàng.

Hát hết cuộc vui, lại có một chương nữa để tiễn nàng đi.

Không ai coi đó là chuyện buồn. Người ta hát tiễn rồi cười, rồi hẹn sang xuân mời lại.

Ghi nhớ: Người ta lấy được của nàng ngôi nhà, lấy được người nàng thương, lấy được cả những năm tháng bình yên. Nhưng lời hát thì không ai lấy được — vì nàng đã đem cho hết rồi.

Chú thích văn hóa

- Sán Chay: dân tộc gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chí, cư trú ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Yên Bái, Quảng Ninh.

- Sình ca: lối hát dân ca đối đáp của người Cao Lan, hát trong hội xuân, đám cưới, khi khách đến bản; lời hát được chép lại thành từng tập.

- Tung còn: trò ném quả còn qua vòng trên cây nêu trong hội xuân, phổ biến ở nhiều dân tộc nhóm Tày – Thái.

- Giấy bản: giấy thủ công làm từ vỏ cây, dùng chép sách và bài hát ở vùng núi phía Bắc.

Góc tương tác

🎯 Đố vui (M6): Vì sao trong hội Sình ca đầu xuân, người Cao Lan phải hát một chương mời rồi cuối hội lại hát một chương tiễn? (Gợi ý: vì họ coi Lau Slam là một người dự hội, chứ không phải một người đã khuất.)

👥 Bản đồ nhân vật (M1): Lau Slam thuộc nhóm nhân vật tổ nghề / tổ dân ca trong kho Việt Nam — người được cả cộng đồng nhận là gốc của một loại hình nghệ thuật. So sánh với các vị tổ nghề khác trong chuyên đề Sự tích Việt Nam.

🗺️ Bản đồ dân tộc (M9): Chạm vào Sán Chay — dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chí; di sản nổi bật nhất là hát Sình ca.

Hết Chương 9

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Hết Tập 1

Tập 2: Truyện Dân Gian H'Mông – Dao

← TrướcHết truyện