🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Từ Đà Lạt nhìn về phía bắc, có một ngọn núi hai đỉnh nằm sát nhau.

Người ta gọi nó là Lang Biang. Hai đỉnh, một tên ghép từ hai cái tên.

Người Cơ Ho nhóm Lạch sống ngay dưới chân núi ấy, và họ giữ câu chuyện này.

Thuở ấy dưới chân núi có hai làng.

Hai làng ở gần nhau đến mức đứng bên này có thể nghe tiếng chày giã gạo bên kia. Nhưng đã lâu lắm rồi họ không qua lại. Nguyên do là một chuyện cũ từ đời ông bà, chuyện gì thì đến người già cũng không nhớ rõ nữa — chỉ nhớ là đã giận.

Cái giận không nhớ nguyên do thường là cái giận khó gỡ nhất. Nó không có chỗ nào để cởi.

Người làng này không lấy người làng kia. Đi rừng gặp nhau thì tránh mặt. Con nít hai làng chơi chung ở bờ suối bị người lớn gọi về.

Làng bên này có chàng K'Lang.

Chàng đi rừng giỏi, bắn nỏ giỏi, và có tiếng là người hiền. Nhà nào trong làng dựng lại sàn, K'Lang đều đến vác gỗ giúp.

Làng bên kia có nàng Hơ Biang, con gái người đứng đầu làng.

Nàng dệt đẹp nhất vùng. Tấm thổ cẩm nàng dệt ra, hoa văn chạy đều như suối, ai nhìn cũng phải cầm lên xem.

Hai người không biết mặt nhau. Cho đến một hôm.

Hôm ấy Hơ Biang đi hái lá rừng, đi hơi xa, gặp mưa. Nàng trú dưới một gốc cây to.

Mưa rừng làm đất trên sườn dốc nhão ra. Một cành cây mục gãy xuống, đè lên chân nàng, đúng lúc trời sắp tối.

Nàng kêu. Không ai nghe.

Rồi có tiếng chân chạy tới.

K'Lang đi săn về ngang, nghe tiếng, chạy tới, nạy cành cây lên, cõng nàng xuống núi.

Đến bìa rừng thì nàng nói khẽ:

— Anh đặt em xuống đây thôi. Em là người làng bên kia.

K'Lang đứng lại một chút. Rồi chàng nói:

— Em đau chân. Anh cõng em về đến nhà.

Và chàng cõng nàng đi tiếp, qua suối, vào tận sân nhà nàng, giữa lúc cả làng bên ấy đang đứng nhìn.

Từ hôm đó hai người thương nhau.

Họ hẹn nhau ở bờ suối, chỗ ranh giới hai làng — chỗ ngày trước bọn trẻ hay chơi rồi bị gọi về.

Đến mùa sau, K'Lang nhờ người sang thưa chuyện.

Cha nàng Hơ Biang từ chối. Không phải vì chê K'Lang. Ông nói thẳng: nếu ta gả con cho làng bên ấy, ta ăn nói thế nào với những người đời trước của ta?

Người làng bên này cũng nói y như vậy về K'Lang.

Hai người bị giữ ở hai bên suối.

Họ bỏ làng.

Một đêm, K'Lang và Hơ Biang dắt nhau lên núi, dựng một cái chòi trên sườn cao, sống với nhau ở đó.

Họ phát một mảnh rẫy nhỏ. Nàng dệt, chàng săn. Trên ấy không có ai để giận họ, cũng không có ai để họ phải giải thích.

Nhưng ở dưới, hai làng thì càng nhìn nhau nặng mặt hơn trước.

Rồi vùng ấy có dịch.

Người trong hai làng lăn ra ốm, sốt, không dậy được. Người này chưa khỏi thì người kia đã nằm xuống.

Trên núi, Hơ Biang biết trong rừng sâu có một thứ lá chữa được. Nàng đã từng thấy mẹ dùng.

Nàng bảo K'Lang ở lại, để nàng đi hái.

Nàng đi ba ngày. Nàng hái đầy gùi lá.

Trên đường về, ở một khe đá trơn, nàng trượt chân.

K'Lang tìm được nàng vào sáng hôm sau, bên gùi lá vẫn còn nguyên, chưa rơi mất một lá nào.

Chàng cõng nàng xuống núi, đúng như lần đầu tiên chàng cõng nàng.

Chàng đi qua làng nàng, đặt gùi lá xuống giữa sân. Chàng đi qua làng mình, đặt xuống một nửa. Rồi chàng nói với cả hai làng đúng một câu:

— Lá này nàng hái cho cả hai bên. Nàng không hỏi ai là người bên nào.

Nói xong chàng cõng nàng lên núi.

Người ta không thấy chàng xuống nữa.

Dịch qua. Nhờ gùi lá ấy, cả hai làng đều còn người.

Khi mọi việc yên, người hai làng cùng lên núi tìm. Họ tìm thấy cái chòi, tìm thấy mảnh rẫy, tìm thấy tấm thổ cẩm nàng dệt dở còn mắc trên khung.

Nhưng họ không tìm thấy hai người.

Chỉ thấy trên đỉnh núi, chỗ trước kia bằng phẳng, nay nhô lên hai ngọn, nằm sát nhau, một ngọn cao hơn một chút, như một người đang cõng một người.

Cha nàng Hơ Biang đứng nhìn hai ngọn núi ấy rất lâu.

Rồi ông quay xuống, gọi người đứng đầu làng bên kia sang, đặt một ché rượu cần ra giữa sân, cắm hai cái cần.

Rượu cần ủ trong ché, uống bằng cần trúc, nhiều người cùng chụm quanh một ché.

Hai làng uống chung ché rượu đó. Từ đó họ thôi giận.

Về sau hai làng nhập lại thành một, và con cháu của họ được gọi là người Lạch — một nhóm của dân tộc Cơ Ho, sống dưới chân núi cho đến bây giờ.

Ngọn núi thì mang tên ghép của hai người: Lang Biang.

Còn con suối chảy qua vùng đất của người Lạch, người ta gọi là Đạ Lạch — suối của người Lạch. Cái tên Đà Lạt được cho là bắt đầu từ đấy.

Ghi nhớ: Có những cái giận không ai nhớ nổi nguyên do, mà vẫn giữ mấy đời. Gỡ nó ra, đôi khi phải mất một điều rất lớn.

Góc tương tác

🎯 Đố vui (M6): Hai làng giận nhau vì chuyện gì? Truyện có nói rõ không — và vì sao chi tiết "không ai còn nhớ nguyên do" lại là chi tiết quan trọng nhất của cả câu chuyện? Ngoài ra: hai đỉnh núi Lang Biang gợi lại hình ảnh nào đã xuất hiện hai lần trong truyện?

🗺️ Bản đồ dân tộc (M9): Bấm vào Cơ Ho trên bản đồ để xem: các nhóm địa phương Srê, Lạch, Chil, Nộp; vùng Lâm Đồng; chế độ mẫu hệ — con theo họ mẹ, nhà gái đi hỏi chồng; nghề dệt thổ cẩm và cồng chiêng. Đây là một trong năm dân tộc có tale riêng của chuyên đề. Núi Lang Biang và tên gọi Đà Lạt là hai dấu vết của truyện này còn nhìn thấy được đến hôm nay.

Hết Chương 6

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 7
← TrướcTiếp →