🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Mạch Hoãn so với mạch Trì nhanh hơn chút,

Mạch Hồng như nước lụt nổi sóng lên.

Mạch Thực ấn thấy găng tay, mạnh khác hẳn.

Mạch Huyền thẳng rẵng như giương dây cung.

Mạch Khẩn như là mới kéo dây, vặn chạc.

Mạch Trường qua ngón tay, ra ngoài bộ.

Mạch Khâu hai đầu có mà giữa thưa không.

Mạch Vi như tơ nhện, khá dễ xét.

Mạch Tế đi lại như sợi chỉ càng dễ coi,

Mạch Nhu không có sức không ưa ấn.

Mạch Nhược thì như muốn đứt, nửa có, nửa không,

Mạch Hư tuy mở rộng song không chắc,

Mạch Cách, rất bền vững, như ấn vào da trống.

Mạch Động như hạt đậu lăn, không có đi, lại,

Mạch Tán chốc chốc mới thoáng tới đầu ngón tay.

Mạch Phục ấn xuống sát xương mới thấy.

Mạch Tuyệt thì không có hẳn, tìm cũng uổng công,

Mạch Đoản ngay trong bộ cũng không tới.

Mạch Xúc đến mau gấp, dần dần khoan đi là đáng mừng.

Mạch Kết đi chậm, thỉnh thoảng lại dừng.

Mạch Đại cũng dừng giữa chừng mà không trở lại được.

Tiều rằng: Tên mạch đã trao,

Mạch nào chuyên chủ bệnh nào xin nghe.

Dẫn rằng: Chẳng mếch chẳng phe,

Mạch nào chứng nấy, tay đè thì hay.

Xiết bao trong sách nhiều thầy,

Sẵn lời ca quyết ta rày vẽ ngươi.

Chư mạch chủ bệnh (Các bệnh thể hiện qua hình trạng mạch)

Dịch nghĩa:

Phù là bệnh phong, Khâu là bệnh huyết, Hoạt là nhiều đờm,

Thực là bệnh nhiệt, Huyền là bệnh lao, Khẩn là bị đau đớn.

Hồng là bệnh nhiệt, Vi là bệnh hàn, đều tích tụ dưới rốn.

Trầm là đau vì khí, Hoãn thì da tê.

Sắc là bị tổn tinh âm, hại huyết.

Trì cũng là bệnh lạnh, Phục là bệnh ở cách quan.

Nhu thường bị toát mồ hôi, riêng người già thường mắc.

Nhược là tinh khí thiếu, xương và thân thể ê ẩm,

Trường là khí tốt, Đoản thì khí bị bệnh.

Tế là khí ít, Đại là khí suy.

Xúc là bệnh nhiệt cùng cực, Kết là tích tụ.

Hư là bệnh kinh giật, Động là thoát bị ra máu liên tiếp.

Sác là bệnh trong lòng buồn bực, Đại là bệnh đang tiến.

Cách là bệnh di tinh, băng huyết, cũng lạ lùng thay.

Tiều rằng: Thầy thuốc nói thường,

Thất biểu, bát lý, chín đường mạch chi?

Dẫn rằng: Ấy thật tục y,

Thấy đâu nói đó, biết gì Mạch kinh,

Ta từng coi sách Mạch kinh,

Chín đường, biểu, lý, không danh mục đề.

Mạch kinh đã chẳng nêu đề,

Đến ông Trọng Cảnh ròng nghề nào biên.

Ngư rằng: Gốc bởi ai truyền,

Cớ sao sách thuốc còn biên làm gì?

Dẫn rằng: Sách thuốc thiếu chi,

"Hãn ngưu sung đống" câu ghi trước tường.

Gốc ra từ họ cao Dương,

Đặt tên mạch ấy mạo Vương Thúc Hòa.

Nối sau, họ Đới đồng ra,

Mạch thư san ngộ cứu tra dọn rồi.

Đan khê chẳng nỡ bỏ trôi

Để cho hậu học làm dùi chiết trung.

Hỡi ôi mạch lý nhiều ông,

Ông nào ý nấy, rồng rồng đua nhau.

Những kiêm nhau với giống nhau,

Coi vào mạch lý lộn nhầu như tương.

Nói cho rộng chước y phương,

Rọt đồng hồ, cũng về đường tứ tông.

Phù, Trầm, Trì, Sác, tứ tông,

Tóm coi ba bộ cho ròng thời hay.

Nghìn xưa bốn mạch đón thay!

Lời ca tâm pháp ta nay thuộc lòng:

Tổng Khan tam bộ mạch pháp (Tổng quát về phép xem mạch ba bộ)

Dịch nghĩa:

Mạch hội ở kinh Thái âm, xem ở đó có thể biết sống chết,

Thốn, Quan, Xích đủ cả tình hình âm dương.

Bằng ba cách ấn nổi, ấn giữa, ấn chìm mà biết mạch đi trì hay sác.

Thuận hay nghịch, thực hay hư đều ứng với ngũ hành.

Nào cửu hậu, nào thập biến, rất là phiền phức

Nhưng đều do tạng phủ hợp lại mà thành ra.

Mạch ba bộ mà đủ thì dễ biết bệnh,

Nhưng nếu khi đến, khi không đến thì thật khó có bằng cứ.

Mạch lên, xuống, đi, lại đều có dấu vết,

Nên tìm mạch, tay phải cứng và nằm ngang.

Duy có mạch Thiên hòa thì không ứng,

Nhảy gấp khác thường là thuộc kỳ kinh.

Một mạch mà biến hai lần chớ lo là lạ,

Nam hay nữ cũng vậy, nếu thấy nó giữa giờ Dần chớ lo sợ hão,

Năm mươi là số chót của phép Thái diễn,

Theo ngôi chủ tiên thiên mới biết là thiêng liêng.

Bốn mùa đều lấy khí của vị làm gốc,

Sáu Giáp kế tiếp nhau như anh với em.

Gọn gàng thay phép tứ mạch để lại cho ngàn đời,

Lập ra then chốt để xem động tĩnh thật giản dị và rõ ràng.

Chẳng cần hỏi ở kinh nào hay tạng phủ nào,

Chỉ cần đinh ninh xét rõ mạch mạnh hay yếu.

Muốn rõ gốc nguồn, không có sự khéo léo nào khác,

Chỉ cốt là khi xem mạch thì tâm thần phải trong sạch.

Phép hay nhóm một thiên này,

Ý sâu, nghĩa kín, vốn thầy bách gia.

Thêm còn Y quán dọn tra

Kiêm lời tiểu tự biên ra hẳn hòi.

Cứ theo thiên ấy tóm coi,

Thực hư ba bộ, biết mòi tử sinh.

Lạ thay mấy mạch kỳ kinh,

Thiên hòa, chẳng ứng nhiều anh dốt ngầm.

Ngư rằng: Tấm biển Y lâm,

Chữ "Tam Công" ấy, chủ cầm ý chi?

Dẫn rằng: Bốn chữ phép kỳ,

"Vọng, văn, vấn, thiết", bậc ghi ba tầng.

Thượng công là chữ "vọng văn",

Trung công chữ "vấn" chủ rằng thông minh.

Hạ công chữ "thiết" đã đành,

Trong ba bậc ấy tài lành khác nhau.

Ba công nghề nghiệp lau làu,

Coi kinh Tố vấn thấy màu thợ hay.

Ngư, Tiều, đều dậy vòng tay,

Rằng: Xin lạy tạ gặp nay lời lành.

Tuy chưa đến cửa cao minh,

Trước dà nghe dạy mở tranh lấp rào.

Mấy hồi lòng chịu miệng trao,

Phá ngu phát rậm, biết bao nhiêu lời.

Bấy lâu ngồi giếng xem trời,

Dòm beo trong ống, đạo đời biết đâu.

Dẫn rằng: Bằng hữu giúp nhau,

Miễn cho trọn nghĩa theo câu ngũ thường.

Phần ta học hãy tầm thường,

Còn nhờ một bạn tê Đường Nhập Môn.

Nhập Môn học có tiếng đồn,

Rộng thông kinh sử, trí khôn vượt bầy.

Nhà nho đèn sách công dày,

Tài kiêm tám đấu, sách đầy năm xe.

Văn chương ai cũng muốn nghe,

Phun châu, nhả ngọc báu khoe tinh thần.

Vì câu "sinh bất phùng thần",

Dẹp nghề cửa Khổng theo phần kỹ lưu.

Đan Kỳ đồ đệ trước sau,

Đều nhường tên ấy ở đầu y sinh.

Ngư, Tiều nghe nói tỏ tình,

Nhìn rằng tên ấy tiền trình vốn quen,

Nhớ xưa cũng bạn sách đèn,

Hết Chương 10

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 11
← TrướcTiếp →