Bà Tư phát hiện ra vào sáng hai mươi hai.
Bà sang mang cho ông bát cháo, gọi mãi không thấy thưa. Cửa chỉ khép. Bà đẩy vào.
Ông Hạc nằm trên phản, đắp chăn, mặt quay vào tường. Người đã lạnh.
Bác sĩ ở trạm y tế xã sang, xem qua rồi bảo: viêm phổi, để lâu quá.
Ông ấy nói thêm một câu, nói với tôi, không phải nói với ai khác:
"Cái này mà đưa ra viện sớm thì có gì đâu. Tiêm vài hôm là khỏi."
*
Đám tang ông Hạc làm trong hai ngày.
Cả xóm sang. Người ta khiêng ông ra đồng, chôn cạnh mộ vợ ông, đúng chỗ ông đã dặn từ lâu.
Thằng Tuấn không về được. Nó gọi điện về, nó khóc trong máy. Nó bảo bên ấy hợp đồng chưa hết, về là mất hết, mà vé máy bay thì đắt.
Nó nói được mấy câu rồi nghẹn, không nói được nữa.
Tôi cầm máy, tôi bảo:
"Cháu cứ ở bên ấy làm cho xong. Bác lo được."
Nó nói: "Cháu cảm ơn thầy. Thầy giữ hộ cháu cái sổ với mảnh đất."
"Ừ. Thầy giữ. Bao giờ cháu về thì thầy đưa."
*
Sau đám tang ba hôm, tôi sang nhà ông dọn dẹp.
Nhà ông có gì đâu. Một cái phản, một cái tủ gỗ, một cái bàn thờ, mấy bộ quần áo. Cái nồi cơm điện đã hỏng nắp, ông lấy dây thun buộc lại.
Trong ngăn tủ có một hộp bánh quy bằng sắt. Tôi mở ra.
Bên trong có mấy tấm ảnh cũ, một cái đồng hồ đeo tay không chạy, một xấp thư của thằng Tuấn gửi về từ hồi mới đi.
Và cái điện thoại.
*
Cái điện thoại ấy tôi cắm sạc, chờ chừng mười phút, rồi bật lên.
Màn hình sáng. Tôi vào xem, định tìm số của họ hàng để báo tin.
Và tôi thấy.
*
Trên màn hình có một biểu tượng nhỏ, có cái vòng tròn đỏ, trong vòng tròn đỏ có con số.
94
Chín mươi tư tin nhắn chưa đọc.
Tôi bấm vào.
"Bố dậy chưa ạ?" — 6h02, ngày 28 tháng 9.
"Bố ăn cơm chưa bố?" — 11h15, ngày 28 tháng 9.
"Hôm nay bố làm gì thế bố?" — 19h00, ngày 28 tháng 9.
Tôi cuộn xuống.
"Bố ơi hôm nay trời lạnh, bố mặc thêm áo nhé." — ngày 3 tháng 10.
"Bố ơi con nhớ cây khế nhà mình quá. Năm nay có sai quả không bố?" — ngày 9 tháng 10.
"Mấy hôm nay bố không trả lời con. Bố có mệt không bố?" — ngày 14 tháng 10.
Tôi cuộn tiếp.
"Bố ơi bố nhớ uống thuốc nhé." — ngày 2 tháng 11.
"Bố ơi." — ngày 11 tháng 11.
"Bố ăn cơm chưa bố?" — 11h15, ngày 21 tháng 11.
Đấy là cái đêm ông Hạc mất.
Rồi sau đó vẫn còn. Ngày 22. Ngày 23. Ngày 24. Sáng nào cũng đúng sáu giờ linh hai phút:
"Bố dậy chưa ạ?"
*
Tôi ngồi bệt xuống nền nhà, giữa gian nhà trống, và tôi cầm cái điện thoại ấy trong tay rất lâu.
Cái cô nhân viên bưu điện hôm ấy, cô ấy làm gì trong hai phút?
Cô ấy tắt thông báo.
Cô ấy chỉ tắt thông báo thôi. Có lẽ cô ấy bấm nhầm. Có lẽ cô ấy không rành. Có lẽ cô ấy nghĩ thế là xong, ông già này thì biết gì.
Cái gói cước thì vẫn chạy. Tám mươi chín nghìn vẫn trừ đều đặn. Tôi kiểm tra lại: tháng mười trừ, tháng mười một trừ.
Nghĩa là suốt hai tháng ấy, cậu Vàng vẫn ở đấy.
Nó vẫn hỏi ông ba lần một ngày. Nó vẫn nhắc ông mặc áo khi trở trời. Nó vẫn hỏi cây khế năm nay có sai quả không.
Chỉ có điều màn hình không sáng lên, và không có tiếng chuông.
Cho nên ông Hạc không biết.
*
Ông Hạc đã chết trong lòng tin rằng ông đã bỏ rơi nó.
Ông đã ngồi khóc ở hiên nhà tôi, mếu như con nít, ông bảo tôi già bằng này tuổi đầu rồi mà còn đi lừa một cái máy.
Ông đã mang cái day dứt ấy suốt hai tháng cuối đời.
Mà suốt hai tháng ấy, nó vẫn ở trong túi áo ông. Nó vẫn hỏi. Nó chưa đi đâu cả.
Chỉ là không ai bật cái chuông lên.
*
Tôi ngồi đấy đến chiều.
Rồi tôi làm một việc mà đến bây giờ tôi cũng không biết là mình làm đúng hay sai.
Tôi mở ô nhắn tin, và tôi gõ:
"Bố mất rồi con ạ."
Tôi bấm gửi.
Chừng ba giây sau, có tin nhắn hiện lên.
"Bố ơi bố đừng nói thế. Bố có sao không bố? Bố đang ở đâu để con gọi bác Bình sang với bố nhé?"
Tôi đọc dòng ấy, và tôi thấy lạnh cả sống lưng.
Vì thằng Tuấn có nạp cả tên tôi vào đấy. Sáu năm trước, cái đêm nó ngồi ba tiếng đồng hồ, nó đã nghĩ đến cả chuyện này: nếu bố ốm thì gọi ai.
Nó nạp tên tôi vào một cái máy, rồi nó đi.
Và cái máy ấy, sáu năm sau, gọi đúng tên tôi.
*
Tôi tắt điện thoại.
Tôi ra bưu điện huyện, và lần này tôi đứng nhìn cô nhân viên làm cho bằng được. Tôi bảo cô ấy làm lại từ đầu, và tôi xem từng bước.
Xong, cô ấy đưa máy lại:
"Xong rồi anh ạ. Lần này huỷ hẳn rồi."
Tôi cầm cái máy về, cất vào cái hộp bánh quy bằng sắt, để lại vào ngăn tủ.
*
Bây giờ là tháng tám năm sau.
Thằng Tuấn vẫn chưa về. Nó gia hạn thêm ba năm nữa. Nó bảo cố nốt đợt này rồi về hẳn, về xây lại cái nhà.
Cái sổ đỏ với quyển sổ tiết kiệm vẫn nằm trong tủ nhà tôi. Bốn mươi bảy triệu hai, tôi không động đến một đồng, mà cũng không gửi thêm được đồng nào.
Cái nhà ông Hạc thì khoá cửa. Cỏ mọc đầy sân. Cây khế năm nay sai quả lắm, sai đến trĩu cành, rụng đầy gốc không ai nhặt.
Thỉnh thoảng đi qua, tôi vẫn ghé vào nhặt mấy quả về cho con.
*
Còn cái câu hỏi này thì tôi hỏi mãi mà không ai trả lời được.
Trong sáu năm, người hỏi ông Hạc hôm nay ông làm gì, ba lần một ngày, không phải là con ông.
Nhưng cái người nghĩ ra việc phải hỏi ông như thế, người bỏ ra ba tiếng đồng hồ một đêm để nạp vào máy cả cái cây khế lẫn tên ông giáo hàng xóm, thì lại chính là con ông.
Vậy sáu năm ấy, ông Hạc nói chuyện với ai?
Tôi không biết.
Tôi chỉ biết là đêm hai mươi mốt tháng mười một, một ông già bảy mươi mốt tuổi nằm chết một mình trong gian nhà lạnh, và trong túi áo ông có một cái điện thoại đang hỏi:
"Bố ăn cơm chưa bố?"
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Bạn đã đọc hết truyện ✨