Ta nhớ người câu hát thể tần.
Bến đò xưa bạn đưa đã trống,
Xảy nhớ người thổi ống phụng sanh.
Dương Từ nghe tiếng hát rân,
Chơn bước lại gần, dựa nhánh dâu coi.
Thấy hai con gái mang gùi,
Hái dâu đã rồi, sắm sửa hồi trang,
Dương Từ nhắm vóc hai nàng,
Chừng vài mươi tuổi, dung nhan tầm thường.
Hỏi rằng: Kỳ lộ nhiều phương,
Lên chùa Linh diệu biết đường nào đi?
Đáp rằng: Hòa thượng hỏi chi?
Ta là phận gái, biết gì chùa đâu.
Để tằm, lo việc hái dâu,
Kéo tơ, dệt lụa, phận đầu nữ công,
Thầy tu muốn hỏi đường thông,
Phải tầm bà vãi, tây đông mới tường.
(Thiếu 2 câu)
Nói thôi mang giỏ về xuôi,
Dương Từ còn đứng ngậm ngùi thở than.
Làm thân bà vãi gian nan,
Đã là đầu trọc, còn mang tiếng cười.
Gái kia chẳng chỉ đường nơi,
Đánh liều, phương nhắm phía trời đông nam.
Đi vừa tới Bạch vân Nham,
Có tòa cổ miếu cổ, mây doanh bốn bề.
Ngó lên trên cửa chữ đề:
"Hiếu Từ" hai chữ, son phê chói lòa.
Lại câu đối liễn treo ra,
Dương Từ trộm thấy, lòng đà sanh nghi.
Liễn rằng:
Đói rách lòng không hờn mẹ ghẻ;
Lạnh đau dạ chẳng trách cha lành.
Thấy câu liễn đối mà thương,
Cho hay: con thảo nhiều đường gian nguy.
Muốn vô coi tượng thờ chi,
Lại e linh ứng, như kỳ chiêm bao.
Trở ra, rồi lại trở vào,
Thấy câu liễn đối, đi sao cho đành!
Xảy nghe bên cụm cây xanh,
Có người đốn củi lanh chanh hát rằng:
Hát rằng:
Núi non đây nhiều cây nghinh ngáng.
Dọn trống đường nhờ cán búa ta.
Búa trong tay, liền ngày đốn củi,
Vui rừng trời tránh buổi loạn ly.
Cội cây yêm phải tìm núp bóng,
Mặc người đời dù lọng nghinh ngang,
Dương Từ nghe hát mấy lời,
Xăm xăm bước tới, thấy người tiều phu.
Hỏi rằng: Nhà cửa ở đâu?
Biết trong miễu ấy, công, hầu, bậc chi?
Tiều rằng: trong miếu Hiếu từ,
Thờ ông Mẫn tử thuở kỳ xuân thu.
Học theo đạo thánh ngày lâu,
Hiếu từ đức hạnh ở đầu tứ khoa.
Hết lòng thảo với mẹ cha,
Người ngoài cho đến trong nhà đều khen.
Thuở xưa đương lúc khó hèn,
Ấu thơ mẹ mất, cha bèn thú thê.
Từ ngày có mẹ ghẻ về,
Đẻ hai con nhỏ, cha kề ấp yêu.
Mẹ thương con ruột phần nhiều,
Ấm thân con ghẻ bỏ liều như không.
Đói, no, lành, rách, mặc lòng.
Ăn theo đày tớ, nằm cùng chăn trâu,
Tử Khiên không dạ oán sầu,
Phải sao hay vậy, trọn câu hiếu hòa.
Gặp khi cha khiến đẩy xa,
Thấy con áo rách, giận bà hậu thê.
Cha bèn vội vã trở về,
Trách bà mẹ ghẻ, toan bề để ra.
Tử Khiên than khóc, lạy cha.
Xin dung một mẹ, mới hòa ba con.
Rách, lành, chẳng sá một con,
Hai con thơ ấu, mẹ còn mới nên.
Thảo thân một tấm lòng bền,
Cảm tình, mẹ ghẻ chẳng quên con chồng.
Nhớ câu "hiếu để thành phong".
Người trong nước Lỗ đều mong học đòi.
Sắc phong một thuở hẳn hòi,
"Hiếu Từ" hai chữ, dấu roi để đời.
Ta đây một họ cùng người,
Kêu bằng ông tổ ba mươi bốn đời,
Từ rằng: Xin hỏi vài lời,
Người ta vốn thật dòng người trâm anh.
Sao không ra lập công danh,
Noi theo nghiệp tổ, hiển vinh mà nhờ?
Tiều rằng trước mặt sờ sờ,
Xưa qua, nay lại, dễ chờ đợi chi?
Đưa theo hai chữ "tương khi",
Trên quyền, dưới lợi, đoái gì thiên luân!
Nước thời chia bốn năm phần,
Can qua chẳng biết mấy lần đánh nhau.
Trong thời gian nịnh giụm đầu,
Ngoài thời dua mị, đua cầu tham quan.
Chánh ra dữ quá cọp vàng,
Lòng dùng độc quá hổ mang, thuồng luồng.
Bốn phương mọi rợ luôn tuồng,
Nay giành ải hổ, mai ruồng ải lang.
Nơi nơi trộm cướp dấy loàn,
Lê dân hết sức, của tan chẳng còn!
Cõi trong trời đất thon von,
Khói mây đen nghẹt, nước non đau sầu.
Biết đời tam đại là đâu,
Gặp khi thúc quý phải âu lánh mình.
Từ rằng bờ cõi thinh thinh,
Chẳng tham danh lợi, lánh mình chớ lo.
Ở trong tạo hóa một lò,
Thiếu chi nghề nghiệp, bo bo theo tiều?
Tiều rằng: Cửa thánh gương treo,
Dùng đời chẳng đặng, thời theo đời dùng?
Khéo khôn ắt có mỏi lòng,
Mỏi lòng rồi lại mắc vòng hỏa tai.
Thử coi con thú vật ngoài,
Như voi như cọp, mấy ai dám bì?
Voi kia cao lớn đen sì,
Cặp ngà vô dụng: can chi lụy mình
Cọp kia nanh vuốt như binh,
Tấm da vô dụng: ai rình đâm chi?
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 8 →