Sáu giờ bốn mươi. Tôi vác cuộn chiếu lên vai trái và leo cầu thang sắt phía sau tiệm thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông. Tiệm đóng cửa lúc sáu giờ, nhưng mùi thì không đóng: quế, cam thảo, một thứ gì đó ngai ngái như rễ cây phơi chưa khô. Mùi đó bám vào chiếu. Khách nào nằm hộ tôi mà sáng ra kể là có mùi thuốc bắc thì tôi biết ngay họ chưa quen.
Cầu thang có mười chín bậc. Bậc thứ mười một kêu. Tôi nhớ con số đó không phải vì tôi để ý mà vì mỗi đêm tôi đi qua nó hai lần.
Tầng ba là một căn phòng dài chín mét, trần thấp, tường quét vôi vàng đã ngả sang màu nước trà. Ngày trước đây là chỗ chứa hàng. Bây giờ giữa phòng có một cái bục gỗ cao chừng hai gang, trên bục trải chiếu, và quanh tường là những cây đinh mười phân đóng thành hàng, cách nhau đúng một gang tay. Trên đinh treo túi.
Bà Tư Lành đang xếp túi. Bà làm việc đó bằng hai tay, không nhìn, như người ta lựa rau.
"Bây tới sớm."
"Kẹt xe đoạn Châu Văn Liêm, con đi vòng."
Bà không đáp. Bà lấy trong cái thùng nhựa dưới chân ra từng túi nilon, mỗi túi buộc miệng bằng dây thun, bên ngoài dán một mẩu giấy ghi tên bằng bút lông dầu. Trong túi là áo. Có túi là khăn. Có túi chỉ có một cái vỏ gối đã ố vàng chỗ đầu người ta gối. Bà treo chúng lên đinh theo hàng, mỗi hàng là một canh.
Hàng thứ nhất mười lăm túi. Hàng thứ hai mười tám. Hàng thứ ba hai mươi mốt. Hàng thứ tư hai mươi bốn. Hàng cuối mười sáu.
Chín mươi bốn.
Tôi đếm hai lần vì bà Tư Lành ghét nghe ai đếm sai. Rồi tôi trải chiếu lên bục, vuốt bốn góc, lấy tay miết dọc mép chiếu chỗ có chỉ thêu tên tôi. Chỉ đã sờn. Năm ngoái tôi định thêu lại, rồi thôi.
Bảy giờ kém mười, bà Tư Lành thắp đèn.
Cái đèn dầu này bà mua ở chợ Kim Biên, hai mươi lăm ngàn, loại người ta bán cho mấy nhà cúng đất. Bấc bằng vải bện, bóng đèn thủy tinh mờ vì khói. Bà lau bóng bằng giấy báo trước mỗi phiên. Bà nói đèn dơ thì ánh sáng nó nhòe, mà nhòe thì khó tìm. Tôi chưa bao giờ hỏi ai khó tìm.
Ngoài cửa có tiếng dép. Khách canh Một bắt đầu tới.
Người đầu tiên là một chị chừng ba mươi lăm, mặc đồng phục siêu thị, cầm bịch nilon đựng cái áo thun cũ. Chị đưa bịch cho bà Tư Lành, bà mở ra ngửi rất nhanh, không phải ngửi kiểu chê, kiểu người ta thử vải, rồi gật.
"Áo giặt hồi nào?"
"Dạ thứ Bảy con mặc, chưa giặt."
"Được."
Chị đưa tiền. Bà đếm, đưa lại một tờ, nói mai mốt đừng đưa dư. Rồi chị đi. Từ lúc chị bước vô tới lúc chị bước ra chưa được ba phút, và trong ba phút đó chị nhìn tôi đúng một lần, cái nhìn rất nhanh, kiểu người ta nhìn cái máy nước nóng trong nhà tắm nhà người khác.
Đa số khách như vậy. Họ không tò mò. Họ đi làm về, họ ghé, họ đưa cái áo và mấy tờ tiền, họ về nhà tắm rửa rồi làm tiếp việc của họ tới khuya. Cái họ mua là hai tiếng, và hai tiếng thì không có gì để mà tò mò.
Bảy giờ, tôi nằm xuống.
Bà Tư Lành cầm túi thứ nhất trên hàng một, mở dây thun, đặt cái áo lên ngực tôi, xếp gọn như xếp đồ vô vali. Rồi bà gọi.
"Nguyễn Thị Kim Yến. Nguyễn Thị Kim Yến. Nguyễn Thị Kim Yến."
Ba tiếng, đều nhau, không cao giọng, không kéo dài. Bà gọi tên người ta như gọi số thứ tự ở phòng khám.
Rồi tới cái thứ hai. Rồi cái thứ ba.
Mười lăm cái tên, mỗi tên ba tiếng, bốn mươi lăm tiếng gọi. Đó là âm thanh của canh Một. Tôi nghe tới cái tên thứ sáu thì thôi nghe.
Chuyện xảy ra sau đó tôi không kể được, không phải vì tôi giấu, mà vì nó giống như hỏi một người kể lại cái lúc họ thiếp đi. Tôi chỉ biết bằng chứng của nó: chín giờ tối, tôi mở mắt, bà Tư Lành đang đứng cạnh bục gom áo bỏ lại vô túi.
"Ra rồi nghen. Kim Yến. Kim Yến. Kim Yến."
Tay tôi tê. Miệng khô. Trong đầu tôi có mùi một cái bếp gas mở lâu quá mà chưa bắt lửa, và một đoạn nhạc chuông điện thoại kiểu cũ, cái điệu ting-ting-ting mà mấy máy Nokia ngày xưa hay xài. Không phải chuông máy tôi. Tôi không có máy đó bao giờ.
Chừng mười lăm phút sau nó nhạt. Nửa tiếng sau tôi không còn nhớ nó là điệu gì.
Đó là canh Một. Rồi canh Hai. Mười tám cái tên.
Canh Ba bắt đầu lúc mười một giờ.
Đây là canh nặng nhất, và ai trong nghề cũng biết vậy, tuy không ai giải thích được cho ra hồn. Bà Tư Lành nói canh Ba là canh người ta xếp đồ. Tôi hỏi xếp cái gì, bà nói mày lo nằm đi.
Hai mươi mốt cái tên. Sáu mươi ba tiếng gọi.
Tôi nằm nghe bà đọc tên người lạ trong một căn phòng chỉ có một ngọn đèn dầu, và tôi biết ở đâu đó ngoài kia có hai mươi mốt người đang tỉnh táo làm việc của họ, chạy cuốc xe hệ số hai chấm một, đứng máy vắt sổ, ngồi canh chai dịch cho người nhà trong bệnh viện, ôn cho kịp thi lại. Họ tỉnh được là vì tôi nằm đây.
Người ta hay tưởng nghề này ghê gớm. Không có gì ghê gớm hết. Nó là nằm.
Ba giờ sáng, canh Tư. Hai mươi bốn cái tên, đông nhất trong đêm, vì giờ đó là giờ người ta đuối nhất mà chưa được về.
Năm giờ kém, canh Năm dứt. Bà Tư Lành gọi ra cái tên cuối cùng, thổi tắt đèn, mở cửa sổ cho gió vô. Trời chưa sáng nhưng đã có tiếng xe rác.
Tôi ngồi dậy. Cổ cứng. Tôi cuộn chiếu, kẹp vào nách, xuống mười chín bậc, bậc thứ mười một kêu.
Trong túi áo tôi có tiền hoa hồng của đêm nay, mười lăm phần trăm, bà Tư Lành sẽ đưa vào trưa mai sau khi kết sổ. Trong đầu tôi có một cái mùi bếp gas, một điệu chuông Nokia, vị của một thứ canh chua nấu quá tay me, cảm giác đứng lâu trên nền xi măng ướt, và chừng bốn năm chục thứ vụn vặt khác mà tới trưa sẽ không còn.
Tôi chạy xe về hẻm 212 Nguyễn Trãi lúc năm giờ mười.
Bà Chín Xoài đã dọn hàng ra rồi. Nồi cháo lòng của bà kê trên cái bếp than đầu hẻm, khói lên thẳng vì chưa có gió. Bà ngồi trên ghế nhựa xanh, tay cầm cái vá, thấy tôi thì hất cằm về phía cái ghế còn trống.
"Bữa nay bây nằm cho nhiêu người?"
Tôi mở miệng.
Chín mươi bốn. Con số đó nằm ngay đó, tôi vừa đếm hai lần cách đây mười tiếng đồng hồ, tôi đếm để bà Tư Lành khỏi rầy.
Mà tôi đứng đó, tay còn kẹp cuộn chiếu, không nói ra được.
Không phải vì tôi quên. Là vì tôi chợt nhận ra tôi không biết mình đã trả lời câu hỏi này bao nhiêu lần rồi.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →