🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: lienhe@truyencuaai.com

Sử chép: An Dương Vương nhân con gái là Mỵ Châu cả tin giặc, để lộ bí mật nỏ thần, mà mất nước. Vua chém con ở bờ biển, rồi theo thần Kim Quy xuống biển. Sử chép có bấy nhiêu, và người đời cứ theo đó mà truyền.

Người đời sau, khi nhắc tới nàng Mỵ Châu, thường chỉ chép một dòng: đứa con gái cả tin để mất nước. Trẻ con học thuộc dòng ấy như học một câu răn. Người ta lấy nàng ra làm gương cho cái tội tin người, nhất là tin giặc, nhất là đàn bà tin chồng. Cả một nghìn năm, cái tên Mỵ Châu đi liền với hai chữ nặng như đá đè: bán nước.

Nhưng các cụ già ở Cổ Loa, những đêm cuối năm ngồi bên bếp lửa, vẫn kể một cách khác. Kể khẽ hơn, như sợ có ai nghe thấy. Rằng cái tội gán cho nàng ấy, các cụ tổ truyền lại, không đúng. Rằng có một sự thật đã bị người ta chôn đi cùng với nàng, chôn kỹ tới mức nghìn năm không ai đào lên nổi. Rằng nàng Mỵ Châu, cái đứa con gái mà cả nước gọi là kẻ để mất nước, thật ra đã chết để giữ một thứ, một thứ quý hơn cả cái nỏ thần, một thứ mà nếu người ta còn nhớ nó là gì, thì hẳn đã không ai dám gọi nàng là kẻ bán nước.

Câu chuyện này kể lại cái sự thật ấy. Không phải để cãi với sử, sử chép cái người ta thấy được, mà sử thì đâu thấy được cái nằm dưới đáy một cái giếng, hay cái nằm trong lòng một kẻ bị mượn. Kể lại, chỉ để một lần, sau nghìn năm, nàng được nghe một người nói giùm nàng cái điều nàng chết đi mà chưa kịp nói.

Nhưng muốn hiểu vì sao nàng chết, thì phải lùi lại xa hơn nàng nhiều. Phải lùi về cái thời trước cả khi nàng ra đời, cái thời mà cõi này vừa đánh mất một thứ, và cái mất ấy chính là mầm của tất cả những gì về sau.

Ấy là thuở nhà Hùng tàn.

Mười tám đời Vua Hùng, dựng nước Văn Lang, giữ cõi qua bao mùa nước, cuối cùng cũng tới hồi mạt. Cái nước từng đứng vững nghìn năm ấy rệu rã dần, như một thân cây cổ thụ mục từ trong lõi, ngoài nhìn vẫn xanh mà trong đã rỗng. Loạn nổi lên khắp nơi. Các Lạc hầu, Lạc tướng đánh nhau. Bờ cõi vỡ ra từng mảnh. Và trong cơn loạn ấy, cõi này đánh mất một vật, một vật mà mất nó đi thì phần lớn người ta chẳng hay, chỉ một dúm người còn biết ngồi khóc thầm.

Cái vật ấy là một cái trống.

Không phải một cái trống thường. Ấy là cái trống gốc, cái trống mà người con cả của Lạc Long Quân, vị Vua Hùng đầu tiên, đã cho đúc từ thuở khai quốc, đúc bằng thứ đồng luyện với long mạch, khắc lên mặt hình mặt trời, hình chim Lạc, hình cả một cõi thu vào một vành đồng. Cái trống ấy, các cụ tổ truyền, không phải để đánh cho vui hội. Nó là hiệu lệnh. Hễ gõ nó lên, tiếng nó gọi được không chỉ muôn dân, không chỉ muông thú, mà gọi được cả long mạch, cả những dòng máu giữ cõi tản mác khắp non nước, và, người ta chỉ dám nói tới đây bằng cách hạ giọng, gọi được cả thần linh, nếu cõi lâm vào cái nạn lớn nhất của nó.

Chừng nào còn cái trống ấy, thì một dân tộc, dù có tan tác tới đâu, cũng còn một chỗ để gọi nhau quay về. Còn cái trống, là còn cái hồn của nước.

Vậy mà cái trống gốc ấy, trong cơn loạn cuối đời Hùng, thất lạc.

Có kẻ nói nó bị chôn giấu để khỏi rơi vào tay giặc. Có kẻ nói nó bị nấu chảy. Có kẻ nói nó vẫn nằm đâu đó dưới lòng đất, chờ một bàn tay đúng người tới đánh thức. Không ai biết chắc. Chỉ biết rằng từ cái ngày ấy, cõi này mất đi cái hiệu lệnh tối thượng của mình. Nó thành một dân tộc không còn cái trống gọi nhau về. Và một dân tộc mất cái trống của mình, thì tuy chưa chết, nhưng đã hở ra một chỗ yếu chí mạng, cái chỗ mà một kẻ rất kiên nhẫn, ngồi dưới đáy một cái biển rất xa, đã chờ đợi từ lâu lắm rồi để thò tay vào.

Bởi cái mà người đời quên, mà câu chuyện này phải nhắc lại ngay từ đầu, là thế này: cái cõi non nước ấy, từ thượng cổ, chưa bao giờ thật sự bình yên. Dưới đáy Biển Hư ngoài khơi xa, có một kẻ. Người xưa gọi nó là Kẻ Có Trước Đất, cái kẻ từng làm chủ mặt đất, bắt muôn loài làm nô lệ, rồi bị tổ tiên nhốt xuống đáy biển bằng một phong ấn dệt từ lòng của muôn loài. Cái phong ấn ấy không chạy bằng gươm giáo. Nó chạy bằng lòng nhớ của muôn dân, bằng cái tục dựng nêu mỗi Tết, bằng cái tiếng trống gọi nhau về. Nên kẻ dưới đáy biển kia, suốt bao đời, không đánh cõi này bằng sức. Nó đánh bằng cách làm cho người ta quên, và làm cho người ta chia rẽ nhau.

Cái trống gốc mất đi, với nó, là một món quà trời cho. Cõi này vừa tự tay đánh rơi một trong những thứ giữ nó vững nhất. Và cái kẻ dưới đáy biển, lần đầu tiên sau bao đời, thấy cái ranh giới nhốt nó mỏng đi được một chút.

Nhưng cõi này chưa chịu chết.

Bởi giữa lúc nhà Hùng tan rã ấy, ở phía bắc, trong vùng núi của người Âu Việt, có một người đang lớn lên. Một người mà về sau sẽ đứng ra gom lại cái cõi vỡ, dựng lại một nước, và gánh lên vai mình cái phận mà mười tám đời Vua Hùng để lại: giữ cõi trước cái ác dưới Biển Hư. Một người sẽ đắp một tòa thành hình xoáy ốc chưa từng có, sẽ đúc một cái trống mới để thay cái trống gốc đã mất, và sẽ sinh ra một đứa con gái mà nghìn năm sau cả nước gọi là kẻ bán nước.

Người ấy tên là Thục Phán.

Người đời sau biết ông bằng một cái tên khác, cái tên ông xưng khi đã dựng xong nước, cái tên sẽ đi liền với cả vinh quang lẫn bi kịch của câu chuyện này: An Dương Vương.

Câu chuyện của nàng Mỵ Châu, muốn kể cho đúng, phải bắt đầu từ cha nàng. Từ cái ngày một người vùng núi nhìn xuống cái cõi đang tan, và quyết định đứng ra gom nó lại.

Hết Chương 1

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 2
Tiếp →